CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

Đạo Phật là đạo giác ngộ

Chúng sanh tám nạn khổ kìm

Sanh già bệnh chết đắm chìm khổ đau.

Ái ân mặn nồng xa nhau

Oán thù gặp gỡ đối đầu hiểm nguy

Cầu mong không được việc gì

Tóm lại năm uẩn thọ thì khổ luôn.

Vậy là thấm thoát thời gian con đến với Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam đã trọn 10 năm. Thực ra, con đã được cha mẹ cho quy y với pháp danh Thị Hiếu tại chùa Bác Ái tỉnh Kon Tum khi còn rất nhỏ. Rồi vì nhiều nhân duyên, gia đình thay đổi chỗ ở, con lại về An Khê sinh sống. Những năm tháng còn là thiếu nhi, con theo anh chị sinh hoạt đoàn Oanh Vũ. Lúc bấy giờ, con vui với cái vui của trẻ thơ khi được theo mẹ lên chùa lễ Phật vào dịp lễ hội, được ca hát vào đêm văn nghệ mùa Phật đản.

Chỉ là vậy thôi! Con không hề biết đạo Phật là gì? Đức Phật là ai, giáo lý của Ngài nhằm giáo hóa việc gì v.v…? Cứ như vậy con trở thành một người Phật tử chỉ vì gia đình mình theo đạo Phật, để rồi khi lớn lên với bao nỗi lo toan đã làm phai mờ hình ảnh ngôi chùa trong con.

Cho đến một ngày, cái ngày định mệnh mà vô thường đã cướp đi đứa con trai yêu quý vì tai nạn giao thông. Con chới với, đau đớn không biết bám víu vào ai, không biết lấy gì xoa dịu trái tim ngày đêm rỉ máu. Có lẽ nhờ nhân duyên nhiều đời nhiều kiếp, con ở cạnh nhà một Phật tử pháp danh Ngọc Châu. Bà hay đi tịnh xá tụng kinh và còn khuyên con nên tụng kinh cho con mình sớm siêu thoát. Lúc bấy giờ, vì thương đứa con bạc mệnh, nên con đã mượn hai cuốn kinh do quý thầy hướng dẫn là Kinh Pháp HoaKinh Địa Tạng về đọc.

Thật là lạ, không biết con có nhân duyên từ thuở nào, mà khi đọc hai cuốn kinh đó làm con say mê, con đọc đi đọc lại nhiều lần và dần nhận ra lẽ vô thường. Một ngày nọ, con thấy Ni sư trụ trì Tịnh xá Ngọc Túc ghé nhà cô Ngọc Châu. Hình ảnh người tu sĩ thanh thoát, thân đắp y vàng, gợi lại cho con hình ảnh vị sư mà lúc nhỏ con thường gặp tại nhà bà Chín hàng xóm, có chồng tử trận. Ngày đó, con nhận thấy rằng trong khi bà đau đớn đến tột cùng thì vị sư ấy đến thăm và khuyên giải. Hình ảnh của vị sư ấy làm con cảm mến và con đến nhà bà lấp ló để nghe sư kể chuyện. Thế là con nhờ cô Châu đưa con đến Tịnh xá Ngọc Túc, từ đó con đến với Hệ phái Khất Sĩ.

Năm 2003, Tịnh xá Ngọc Túc là điểm An cư kiết hạ, nên luôn có chư Tôn đức về giảng pháp, có cả đoàn hoằng pháp của Giáo hội về thăm. Con như một đứa con lạc lõng từ bao năm, nay lại được trở về trong ngôi nhà thân yêu, được chư Ni đùm bọc, được Phật tử sẻ chia. Như cá gặp nước, ngày ngày con được uống dòng sữa pháp của chư Tôn đức giảng dạy qua băng đĩa, mà con nghe đến thuộc lòng. Con thường mượn kinh sách của chư Ni về đọc. Những cuốn sách: “Đức Phật và Phật Pháp”, “Những bước thăng trầm” của Ngài Narada do Phạm Kim Khánh dịch, “Bước đầu học Phật” do Hòa thượng Thanh Từ viết và bộ “Phật học phổ thông” do Hòa thượng Thích Thiện Hoa soạn, làm con luôn suy tư và nỗ lực hành trì.

Dòng thời gian trôi mau, cũng là những bước dài con tìm cầu nghiên cứu về bộ Chơn Lý của Tổ sư Minh Đăng Quang. Gần gũi thầy sáng, bạn hiền và tinh cần tu học, con nhận ra nhiều điều sâu sắc qua mỗi ngày đọc tụng cuốn kinh Nghi thức tụng niệm bằng tiếng Việt.

Gần đây, con còn được tham gia vào khóa tu thiền “Tâm tĩnh lặng” mà Giáo đoàn III tổ chức cho cư sĩ tu học, hay trợ duyên cho những khóa “Bồi dưỡng đạo hạnh” dành cho Sa-di, Sa-di-ni và Tập sự, rồi những mùa lễ hội Vu-lan hay ngày lễ Tổ, con được chiêm ngưỡng chư Tôn đức Tăng Ni trì bình khất thực. Hình ảnh thoát tục của chư Tăng Ni trong chiếc huỳnh y giải thoát như đưa con ngược thời gian trở về năm tháng Đức Thế Tôn còn tại thế. Những sứ giả Như Lai du phương hành đạo, làm sống dậy hình ảnh Tăng đoàn Phật còn tại thế năm nào. Đó là hình ảnh khiêm hạ của một vị khất sĩ, mà cũng là một hình ảnh oai nghiêm, tự tại của một vị có chí xuất trần đi giữa dòng đời.

Càng tiếp xúc, càng hành trì, con dần nhận ra đạo Phật là con đường dẫn đến giác ngộ và giải thoát. Giác ngộ sự thật muôn đời của vạn sự, vạn vật và giải thoát mọi hệ lụy khổ đau trầm thống của chúng sanh là mục đích, là yếu chỉ cho những ai quyết chí tu học theo chánh pháp.

Con đường cao đẹp tuyệt vời ấy, Đức Từ Phụ của chúng ta đã một lần lên đường và đi đến đích trọn vẹn. Bằng vào sự nỗ lực tu tập và kinh nghiệm bản thân, Ngài đã hoàn thành chí nguyện cao cả, tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn. Sau khi thành đạt quả vị Vô thượng Bồ-đề, Ngài đã dõng dạc tuyên bố: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”. Lời xác chứng này cho thấy chúng ta có đầy đủ khả năng để thực hiện công trình giác ngộ như Đức Phật, nếu chúng ta thực tâm kiên trì trong việc học hỏi và hành trì đúng như lời Phật dạy. Chúng ta hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi với ngọn đuốc Chánh pháp.

Cho đến hôm nay trải qua 10 năm tu học, gắn bó với ngôi đạo tràng Tịnh xá Ngọc Túc cũng như những công tác thiện sự đã dần nuôi lớn tâm con với chí nguyện mang đến cho cuộc sống chung quanh một đạo Phật thiết thực, đem được ánh sáng trí tuệ đến với số đông.

Cũng chính vì hạnh nguyện này mà Đức Tổ sư Minh Đăng Quang đã thị hiện ở đời, mang hạnh nguyện của ba đời chư Phật, đem ánh sáng chơn lý đại đồng và bình đẳng ban khắp muôn nơi, gieo rắc chí nguyện độ đời, đưa con người thoát khổ.

Nhưng muốn thực hiện hạnh nguyện đó chúng ta phải làm gì?

Chúng ta cần phải huân tu văn huệ, tư huệ và tu huệ. Ba yếu tố này hỗ tương cho nhau, đồng thời chúng trợ giúp chúng ta rất đắc lực trong tiến trình học hỏi, tư duy, và nhất là về phương diện hành trì. Ví dụ nhờ học Phật pháp, chúng ta nhận biết rằng thân người là vô thường tạm bợ: sanh, già, bệnh, chết; cho đến muôn sự muôn vật cũng chỉ là những tấn tuồng huyễn hóa giả tạo, đều phải trải qua các giai đoạn: thành, trụ, hoại, không. Nhờ nhận thức như vậy, chúng ta không chạy theo làm nô lệ cho cái thân giả hợp này, chúng ta cũng không cố chấp những việc thị phi trớ trêu thường tình, những đắc thất bỉ thử mà người đời vẫn cứ mải mê đeo đuổi. Nhờ hiểu rõ được thực trạng của thân và tâm, chúng ta sẵn sàng từ bỏ tham dục, sân hận và ngu si vì nhận thức rằng chúng là nguồn gốc của mọi đau khổ và phiền não. Ba thứ độc hại này là động cơ chính đưa đẩy chúng ta vào con đường sanh tử luân hồi, đồng thời chúng cũng là ma chướng cản trở chúng ta trên lộ trình giác ngộ và giải thoát.

Chúng ta không những nhận rõ về thực trạng chính nơi thân tâm của mình mà còn thấy biết rõ ràng về tình trạng hiện thực nơi tha nhân, xã hội và ngay cả thế giới nữa. Bạo lực, thù hận, chiến tranh và sự phá hủy môi sinh đã và đang xô đẩy con người đến một vực thẳm hiểm họa khủng khiếp hầu như vô phương cứu chữa. Con người sống trong xã hội hôm nay, hơn bao giờ hết, đang cảm thấy một sự bất an toàn diện. Từ trong phạm vi gia đình, học đường, công sở cho đến ngoài xã hội, hầu hết mọi người đang sống phập phồng trong nỗi lo âu và sợ hãi đủ mọi thứ. Tình ái, tài sản, công danh và sự nghiệp khi chưa đạt được thì lo lắng mong cầu làm sao đoạt cho kỳ được; đến lúc được rồi thì sợ hãi, sầu muộn vì những thứ đó đang từ từ biến mất. Chủ nghĩa cá nhân, đam mê vật chất và đời sống thác loạn trong xã hội, cơ chế kỹ nghệ điện toán đang đẩy đưa con người vào hố sâu của tội lỗi và khổ đau.

Chính nhờ vào năng lực tu tập hành trì Bát Chánh Đạo, chúng ta không làm tăng thêm nỗi khốn khổ cho bản thân và xã hội, mà ngược lại còn tích cực trong việc làm giảm thiểu tình trạng nguy nan mà con người và xã hội thời đại đang khốn đốn đương đầu. Ngoài ra, chúng ta còn biết ứng dụng bốn pháp vô lượng tâm trong đời sống hàng ngày để đem sự an lạc cho muôn loài. Đó là chúng ta đang đi trên con đường giải thoát giác ngộ.

Thiền môn mở rộng chốn ta-bà

Định rõ nẻo đàng chỗ thoát ra

Trong tâm ngoài tánh thể một nhà

Đời này thấy rõ chẳng đâu xa

Sống với chơn như khỏi vạy tà

Của cải tiền tài tựa huyễn ma

Chúng sanh giác ngộ kiến Di-đà

Ta-bà Tịnh độ chính do ta.

Con người chúng ta không nhiều thì ít, đều mang những nỗi lo âu sợ sệt. Lo sợ già, bịnh, khổ, nghèo, cơ cực, và nỗi lo sợ to lớn nhất của con người từ xưa đến nay vẫn là cái chết. Chúng sanh đã lăn trôi trong vòng luân hồi sanh tử không cùng không tận cũng chỉ vì những lo sợ này, vì lo sợ mà cố cưỡng lại luật vô thường, vì cố cưỡng lại luật vô thường mà mê lầm gây ra ác nghiệp. Để rồi từ đó cứ mãi lặn ngụp trong bể khổ sanh tử luân hồi.

Chính Tổ sư đã nhìn thấy rõ những điều này nên Ngài đã quyết định cắt ái ly gia để tìm cho ra con đường giải thoát. Ngài đã khổ công tu trì và đạt thành đạo quả khi tuổi mới 22. Ngài đã thấu triệt những nguyên lý của vũ trụ và vạn vật khi ngộ chơn lý “Thuyền Bát-nhã”. Ngài đã nhìn thấy trên đường sanh tử của chúng sanh trùng trùng điệp điệp những mộng mị. Chính vì bị những mộng mị chập chùng ấy mà chúng sanh đã quên mất nẻo về; chúng sanh đã đánh mất quê hương chơn như, hay đánh mất chính mình.

Tổ sư Minh Đăng Quang đã khai sáng Hệ phái Khất sĩ với chí nguyện “Nối truyền Thích-ca Chánh pháp” nhằm chỉ rõ cho chúng sanh đi đúng theo con đường mà Đức Từ Phụ đã đi, đã đến mà chúng ta vì từ vô thỉ đã đi trong bóng đêm dày đặc của vô minh, không biết mình là ai, không biết mình từ đâu tới, đến đâu và đi đâu cũng không biết, chỉ biết mượn giả làm chơn và cứ mãi làm thân lữ khách dừng hết trạm này đến trạm khác. Đức Từ Phụ, vì lòng bi mẫn đã đem hết những gì Ngài liễu ngộ ra chỉ dạy cho chúng sanh, những mong ai nấy cũng đều giác ngộ như Ngài, và những mong cái thế giới ta-bà uế trược khổ đau này sẽ biến thành một ao sen khổng lồ, ngát hương thanh khiết và thanh tịnh. Đức Từ Phụ đã ân cần dặn dò chúng đệ tử phải nhận ra đường chánh nẻo tà, đừng đem vọng tưởng mà tạo các nghiệp không thiện.

Muốn có được một đời sống an lạc và tỉnh giác thật sự, chúng ta nên nỗ lực thực hành những lời dạy cao quý của Đức Từ Phụ. Nhờ vào công phu tu tập hằng giờ hàng ngày, chúng ta có thể chuyển hóa những hạt giống trong tâm thức của mình từ tham lam ích kỷ thành phóng xả lợi tha, nóng giận sợ hãi thành an nhiên bình tĩnh, mê lầm cố chấp thành sáng suốt hỷ xả. Khi tâm thức chúng ta chuyển đổi thì không những riêng ta được an vui tự tại, mà những người chung quanh đều được lợi lạc vô cùng. Hỡi những ai thực tâm muốn giải thoát, hãy vững tin vào Chánh pháp và thực hành đúng lời Phật dạy. Thời gian sẽ trôi nhanh, thoáng một cái ta đâu còn ở tuổi hai mươi, rồi ba mươi, rồi bốn mươi, rồi năm mươi, rồi hết một đời. Không lẽ ta đến với cuộc đời bằng tiếng khóc, rồi cũng lại ra đi bằng tiếng khóc của trĩu nặng khổ đau và phiền muộn sao? Mong cho ai nấy đều sớm quay về với chính thực tại của mình, sống đời tỉnh thức và thực nghiệm nơi chính bản thân mình để một ngày không xa nào đó pháp giới chúng sanh đều tìm lại được cái chân như thường hằng miên viễn mà chúng ta đã một lần dại dột bỏ quên.

Từ sự tiếp cận và gắn mình trong giáo pháp của Tổ Thầy, con luôn nhắc mình phải vươn lên trước những nghịch cảnh, không thể để mình gục ngã trong những thường tình của đời sống trụy lạc, đánh mất hướng đi, lý tưởng. Giữa những áp lực, những căng thẳng, hoang mang, khủng hoảng về cuộc đời, cuộc sống, con đã may mắn gặp được giáo pháp Khất Sĩ và tìm đến, tiếp cận với nguồn giáo pháp vi diệu của Phật, của Tổ Thầy để lại, không phải để mong được che chở, ban ân, ẩn thân trong những ảo tưởng nào đó, nhưng để học hỏi, thực hành và chuyển hóa tâm mình để có thể an bình, tự tại phần nào trước những dữ kiện bấp bênh, vô thường.

Con thật sự rất hạnh phúc khi được làm con của Đức Phật, được là đệ tử của Tổ Thầy. Con quyết tâm tu học, để lòng ích kỷ phải cúi đầu khi tâm từ được mở rộng; tham chấp được giảm thiểu khi thực hành hạnh bố thí, giúp người; lòng thù hận, ganh ghét bị khuất phục bởi tình thương con người. Cuộc sống bấp bênh, đau khổ, vị kỷ, hướng theo dục lạc phải được chuyển hóa bởi năm giới như: không sát sanh, gây hại cho người và vật; không tham lam trộm cắp làm thiệt hại tài sản của người khác; không tà dâm; không nói dối, nói lời gây hại, chia rẽ cho người; không dùng những loại kích thích như rượu, thuốc… Tất cả chỉ vì mục đích duy nhất là hoàn thiện chính mình. Và cuộc sống an lạc, tự tại, bình an phần nào trước những xáo trộn, trước tám ngọn gió chướng thổi đến… còn tùy thuộc vào sự thực hành, áp dụng những giáo pháp được đến đâu, như bầu trời không mây, trăng sẽ sáng tỏ, để chúng ta có thể vững chãi trong đời sống vô thường, ngắn ngủi nhưng đầy bất trắc của thế gian này.

Trước thềm sự kiện Đại Lễ 60 năm Tổ sư Minh Đăng Quang vắng bóng, con xin thành kính đê đầu đảnh lễ Ngài, con thật hạnh phúc được làm người cư sĩ áo trắng hàng ngày thọ học, được tắm mình trong giáo pháp Khất Sĩ. Từng giọt dương chi của giáo pháp Khất Sĩ luôn là nước cam lồ tưới tẩm cho tâm hồn con để trưởng dưỡng tánh Phật nơi tâm, được đi trên con đường chơn chánh.

Ngưỡng nguyện cho Chánh pháp luôn trường tồn, bóng huỳnh y luôn mãi đẹp trong lòng nhân loại.

Cầu mong cho giới luật luôn được hành trì để đạo pháp xương minh.

Cầu nguyện cho những khóa tu học luôn được diễn ra cho hiển lộ tinh thần sống chung tu học.

Cầu xin chư Phật, chư Tổ Thầy, chư vị Trưởng lão quá cố chứng minh cho lòng thành của con nguyện phụng sự đạo pháp với chí nguyện: Tổ Thầy đã có công khai mở mối đạo, chúng con một lòng gìn giữ làm cho giáo pháp Khất Sĩ rạng ngời.

An Khê - Gia Lai

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết: