CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

Dharamsala - Phố núi đầy sương - Phần 1

Từ ngày 24/6/2011 đến ngày 3/7/2011 chúng tôi được tham dự Pháp hội dành cho Tăng Ni và Phật tử Việt Nam lần đầu tiên được tổ chức tại Dharamsala, Ấn Độ – trú xứ của Đức Đạt-lai Lạt-ma đời thứ 14, nhà lãnh đạo tinh thần của nhân dân Tây Tạng, biểu tượng sống của đất nước, văn hóa và Phật giáo Tây Tạng.

Xin cảm niệm công đức của HT. Giác Toàn, ĐĐ. Giác Hoàng, chư Tăng Ni Việt Nam cùng tham dự và Phật tử Bích Thủy, Minh Châu cùng tất cả thành viên trong Đạo tràng Liên Hoa Tuyết (Snow Lotus Foundation) đã tạo cho chúng tôi có một đại nhân duyên thù thắng này.

Ký sự về chuyến đi này như một lời cảm ơn đến tất cả quý vị, các pháp hữu tham dự. Nếu có điều sai sót, người viết mong được chỉ dạy và bổ túc.


HT. Giác Toàn, ĐĐ. Giác Hoàng, chư Tăng Ni Việt Nam cùng tất cả thành viên trong

Đạo tràng Liên Hoa Tuyết (Snow Lotus Foundation) tham dự pháp hội dành cho người Việt Nam tại Dharamsala

Nhân duyên quá khứ

Mười hai năm trước, khi mẹ tôi qua đời, tôi được một người bạn tặng cho quyển sách “Sống hạnh phúc, chết bình an(The Joy of Living and Dying in Peace) do Đức Đạt-lai Lạt-ma thứ 14, nhà lãnh đạo tinh thần của nhân dân Tây Tạng viết. Cuốn sách đã an ủi tôi rất nhiều.

Tôi cũng đọc đâu đó những tư liệu về cuộc đời của Ngài. Ngài có kể khi mẹ Ngài mất, Ngài đã tụng hàng trăm ngàn lần câu thần chú “Om Mani Padme Hum”. Theo Phật giáo Tây Tạng, câu thần chú này tiêu biểu cho tâm từ bi và ân sủng của chư Phật, Bồ-tát, đặc biệt là Bồ-tát Quán Thế Âm – vị Bồ-tát của lòng bi mẫn, vị bảo hộ cho đất nước và nhân dân Tây Tạng. Người Tây Tạng xem Đức Đạt-lai Lạt-ma là Bồ-tát Quán Thế Âm thị hiện trong cuộc đời này.

Khi tụng thần chú này sẽ tịnh hóa được nghiệp chướng nhiều đời nhiều kiếp, người sống được bình an, phúc lạc, người chết được siêu thoát về cõi an lành.

Khi tôi mất mẹ, “tôi như mất cả bầu trời”, lòng hoang mang không biết mẹ tôi chết rồi bà sẽ đi về đâu. Trong vũ trụ bao la có đến vô số thế giới, mẹ tôi ở cõi nào, có an lành không, có hạnh phúc không? Trong tôi thôi thúc một lời giải đáp và muốn tự mình tìm thấy lời giải đáp đó, dựa trên một niềm tin có cơ sở chứng nghiệm bằng chính bản thân tôi.

Tôi quyết định đi Tây Tạng, nơi mọi tín ngưỡng gần như tuyệt đối của dân tộc này là đạo Phật. Đối với sự luân hồi và tái sinh của con người, họ không chỉ giải thích trên lý thuyết mà còn được chứng nghiệm bằng người thật việc thật. Đó là sự hóa thân của Dalai Lama (tạm dịch “Đại dương của trí tuệ”), Panchen Lama (Ban Thiền Lạt ma) và và rất nhiều vị khác nữa.

Chỉ 5 tháng sau ngày mẹ tôi mất, tháng 6 năm 1999, tôi đặt chân đến Lhasa - thủ đô của xứ sở nằm chót vót trong mây, được gọi là “nóc nhà của thế giới”, một thánh địa của Phật giáo Đại thừa, mảnh đất tĩnh lặng và tinh khiết, nơi giao hòa tuyệt diệu giữa Trí tuệ và lòng Từ bi.

Quả thật, Tây Tạng là đất nước của các thần chú linh thiêng, người ta nói trẻ con nước Anh biết bơi trước khi biết đi, thì trẻ con Tây Tạng biết đọc thần chú trước khi biết nói. Đọc thần chú “Om Mani Padme Hum” và quay bánh xe pháp là nghi thức “tịnh nghiệp” của người Tây Tạng, và hình ảnh này cũng thấy nhiều ở các tu viện, đền đài ở Dharamsala, Ấn Độ.

Trong thời gian ở Tây Tạng, chúng tôi có đến thành phố Shigatze, thủ phủ của tỉnh Tsang, lãnh địa truyền thống của các Panchen Lama, là vị Thầy giáo thọ của các Dalai Lama. Chúng tôi đi theo con đường thông thương với Ấn Độ mở từ thế kỷ thứ V, vượt qua 2 ngọn đèo Kambala và Karola cao hơn 5.000 mét, ngắm nhìn con sông Yarlung Tsanpo là con sông cao nhất thế giới, như một dải lụa bạc ở phía Bắc và màu nước trong xanh như ngọc bích của hồ Yamdrok, cũng là hồ nước mặn cao nhất thế giới. Con đường thật là cheo leo hiểm trở, không khí loãng, áp suất thấp làm ai cũng mệt mỏi, phải thở bằng bình oxy nhỏ mang theo đề phòng có thể bị chóng mặt, ngất xỉu bất ngờ.

Tuy nhiên, trước thiên nhiên hùng vĩ, tuyệt đẹp và biết khó có thể nhìn thấy lần thứ hai trong đời, chúng tôi lục đục xuống xe, tản bộ trên con đường đèo dốc đá cheo leo, cảm nhận sự bình an thanh khiết đến vô cùng. Tôi nhặt một hòn đá màu đen, trơn láng nằm trên bãi cát sỏi khô cằn, cạnh hai bông hoa màu vàng hiếm hoi, làm vật kỷ niệm về một chuyến đi thật bất ngờ và kỳ diệu.

Thật vậy, chuyến đi đã làm thay đổi cuộc đời tôi, đưa tôi trở về truyền thống tâm linh của gia đình là đạo Phật. Tôi như một đứa trẻ ham chơi, lạc lối nay tìm được con đường trở về ngôi nhà tâm linh của chính mình, tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời mình qua những lời dạy của đức Phật, của Ngài Tenzin Gyatso Dalai Lama.

We are visitors on this planet. We are here for ninety or one hundred years at the very most .During that period, we must try to do something good, something useful with our lives. If you contribute to other’s happiness, you will find the true goal, the true meaning of life.”

(Chúng ta là những người khách viếng thăm hành tinh này. Chúng ta ở đây nhiều nhất là chín mươi hay một trăm năm. Trong khoảng thời gian ấy, chúng ta phải cố gắng thực hiện điều gì đó tốt đẹp, lợi ích cho cuộc sống chính chúng ta. Và nếu các bạn góp phần mang lại hạnh phúc cho người khác, các bạn sẽ tìm thấy mục tiêu đích thực, ý nghĩa đích thực của cuộc đời).

Tôi đã mang hòn đá “hữu duyên” từ Tây Tạng về Việt Nam và gìn giữ nó suốt 12 năm qua, tâm nguyện một ngày nào đó, gặp được Ngài Đạt Lai Lạt Ma, tôi sẽ cúng dường Ngài kỷ vật đơn sơ đến từ quê hương huyết thống của Ngài. Đối với tôi ở một ý nghĩa tâm linh nào đó, hòn đá không phải là vật vô tri vô giác:

Khi ta ở chính là nơi đất ở      

Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn.

(Chế Lan Viên)

Ước nguyện của tôi đã thành hiện thực. Tôi đã được gặp Ngài Đạt-lai Lạt-ma bằng xương bằng thịt. Dharamsala thành phố miền Bắc Ấn Độ, trú xứ của Ngài lần đầu tiên chào đón Tăng Ni và Phật tử Việt Nam tham dự pháp hội do Ngài chủ lễ. Thật là một đại nhân duyên thù thắng chưa từng có.

Dharamsala - phố núi đầy sương  

Dharamsala, thành phố nằm ở miền Bắc Ấn Độ, thuộc tiểu bang Himachal Pradesh. Tên Dharamsala có nghĩa là “nhà nghỉ” (rest house) cho những người hành hương tâm linh.

Sau biến cố năm 1959, Tây Tạng bị Trung Quốc xâm chiếm hoàn toàn, Dharamsala là món quà mà vị Thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ Jawaharlal Nehru đã tặng cho vị lãnh đạo tinh thần của nhân dân Tây Tạng, khi Ngài và hơn 80 ngàn người dân Tây Tạng rời bỏ quê hương.

Nằm trong thung lũng Kangra thuộc ngọn núi Dhanladha của dãy Hy-mã-lạp sơn có độ cao gần 1.800 mét, Dharamsala được chia làm hai khu vực: Kotwali Bazar và các vùng phụ cận gọi là Hạ Dharamsala, khu vực thứ hai là thị trấn Mcleod Ganj gọi là Thượng Dharamsala, nơi hầu hết là người Tây Tạng sinh sống, dân số khoảng trên 8.000 người.


Dharamsala phố núi đầy sương

Dharamsala được bao bọc bởi những rừng thông và tùng Hy-mã-lạp sơn, mọc cao vút, mạnh mẽ, có nhiều thắng cảnh thiên nhiên như hồ, thác, thích hợp cho người thích leo núi, đi bộ trong rừng, và càng nổi tiếng, tấp nập hơn vào mùa hè, vì đây là nơi “trốn” nóng tuyệt vời.

Khi chiếc phi cơ ATR của Hãng hàng không Kingfisher đưa đoàn Tăng Ni Phật tử Việt Nam do HT. Giác Toàn làm Trưởng đoàn đáp xuống phi trường Kangra, một cơn mưa rào đã chào đón chúng tôi, báo hiệu mùa hè sắp đi qua và mùa mưa ở Dharamsala bắt đầu. Chiếc khăn trắng Kata chúc phúc từ các vị Lạt-ma và Ban tổ chức choàng trên vai mọi người mang lại cảm giác thân thiện, tươi mát đến ngỡ ngàng: “Ôi, Dharamsala đây rồi sao?”.

Từng chiếc xe taxi nội địa đưa hành khách và hành lý vượt qua những con đường đèo hẹp, thật hẹp với những khúc quanh “gắt” đến nỗi người cứ nghiêng ngả theo từng đoạn đường trong khi các bác lái xe thì tỉnh bơ.

Đại đức Giác Hoàng, Tăng sinh du học ở Ấn Độ 7 năm có 3 năm ở Dharamsala, là Phó đoàn, MC của Pháp hội, cũng là một “tour guide” tuyệt vời đã có lần nói với chúng tôi: “Muốn hiểu về người Ấn Độ sống và làm việc như thế nào, chúng ta nên biết về ba tính cách đặc trưng của họ: chịu đựng, suy tư và chờ đợi”.

Thật vậy, chúng tôi có kinh nghiệm ngồi chờ các nhân viên khách sạn 4 sao La Suite ở New Delhi loay hoay tính toán, ghi chép, phát hành chỉ đúng có mấy cái hóa đơn tiền phòng cho khách mà mất hơn một giờ đồng hồ.

Đến Ấn Độ là có cơ hội vàng thực tập và “gia cố” thêm tính kiên nhẫn. Nếu bạn muốn cái gì cũng nhanh, vì thời giờ là tiền bạc mà, thì không có ở xứ Ấn Độ này, nhất là ở Dharamsala.

Dharamsala là thành phố núi thuộc rặng Hy-mã-lạp sơn, khí hậu mát mẻ trong lành, mùa hè là nơi nghỉ mát lý tưởng cho du khách địa phương. Từ khi Dharamsala trở thành thủ đô của dân Tây Tạng lưu vong, thì đây là địa điểm hành hương, tu tập nổi tiếng (không thể không một lần viếng thăm), nhất là những ai tín mộ hoặc muốn tìm hiểu về Phật giáo Tây Tạng và Mật tông Kim Cang thừa.

Nơi đây có nhiều tu viện, đền đài mang dấu ấn đặc sắc của văn hóa, kiến trúc, phong cách tu tập và đời sống của người Tây Tạng. Họ ra đi mang theo quê hương, mang theo cái “hồn” của một dân tộc chọn đạo Phật là quốc giáo.

Họ hiểu biết sâu sắc sự vô thường, nên mất hay còn không làm họ đánh mất đi sự bình thản, chân chất, giản dị thể hiện trên nét mặt ở các tu sĩ Tây Tạng và cả người dân buôn bán trên phố.

Nơi đây phố nhỏ, nhà nhỏ, không có lề đường cho người đi bộ, đường xe chạy và thềm nhà sát nhau. Người và xe chen chúc nhau trên con đường chỉ rộng khoảng 4 mét, vậy mà không có tai nạn, cãi vã hoặc chen lấn, ai cũng nhường nhau. Các bác tài thì rất “tùy duyên”, quan sát thấy có vẻ phải chờ lâu, tự động mở cửa cho chúng tôi xuống xe thư giãn cái thân tứ đại “khổ hoạn” này, hoặc chỉ cho chúng tôi vào ngắm nghía các cửa hàng chỉ cách vài bước chân. Chúng tôi mua quà lưu niệm hay chụp được những bức ảnh độc đáo trên đường phố Mcleod Ganj (Thượng Dharamsala) ở những khoảnh khắc “tùy duyên” rất dễ thương ấy.

Cũng chính các bác tài, người “độ” chúng tôi lên đèo xuống dốc trong những ngày ở Dharamsala là hình ảnh chân thực về tính cách im lặng, suy tư, trầm tĩnh của người Ấn Độ. Phương pháp định tâm, tập trung tư tưởng hay còn gọi là thiền định (Samadhi) có gốc từ Ấn Độ. Các bác này quả là những lái xe bậc thầy về sự khéo léo và chánh niệm không nói chuyện, không để nhạc trên xe, không “lầu bầu” khi gặp tắc đường, hoặc gặp một tay lái khác qua mặt trái phép, và chắc chắn không uống bia rượu, có lẽ vì giới luật và loại nước uống có cồn ở đây vốn hiếm và đắt.

Người Ấn Độ (ngoại trừ Ấn theo Hồi giáo) hầu như ăn chay là chính. Các hiệu ăn thuần túy món ăn Tây Tạng đa phần cũng là thức ăn chay. Lang thang như một du khách “ba lô” trên khu trung tâm, chúng tôi chợt khám phá món cà ry và soup rau nấm kiểu Tây Tạng ở Dharamsala ngon cực kỳ.

Chúng tôi may mắn ở một khách sạn cho phép sử dụng nhà bếp của họ, chỉ trả một chút ít chi phí tiền gas. Muốn có một bữa cơm chay hương vị quê nhà, có thể tìm thấy ở Dharamsala đủ loại rau củ, đậu hạt, trái cây tươi, trồng ở vườn nhà không bón phân hóa học, trông thì èo uột, nhỏ bé nhưng đảm bảo sạch, an toàn.

Dharamsala thời tiết thay đổi như một cô gái đẹp và khó tính, vừa rực rỡ bởi những tia nắng vàng cuối ngày, hứa hẹn chụp được những bức ảnh hoàng hôn tuyệt đẹp ở thung lũng Kangra thì sương mù bỗng đổ ập xuống. Chúng tôi xuống phố trong sương mù lãng đãng, lạnh và thi vị như lời của một bài hát tả về vùng cao nguyên Pleiku ở quê nhà.

“Phố núi cao, phố núi đầy sương

Phố núi không xa, nên phố tình thân”.

Dharamsala đúng là phố núi đầy sương, nhưng cũng thật là thân quen dù chỉ mới đến có mấy ngày. Ở đây “đi dăm bước đã về chốn cũ”, từ khách sạn, thả bộ xuống hai con dốc là đến tu viện Namgyal, nơi diễn ra Pháp hội. Tuy lần đầu tiên tổ chức cho Tăng Ni và Phật tử đến từ Việt Nam khoảng 500 người, nhưng Pháp hội đã thu hút cả người Tây Tạng, Ấn Độ, du khách nước ngoài và các tu sĩ Tây Tạng đến từ các tu viện lân cận, con số chính thức lên tới trên 5.000 người. Người, xe lên xuống nhộn nhịp trên những con đường chật hẹp, thỉnh thoảng bị “tắc” bởi các chú bò, ngựa, lừa. Sau khi thả các chất thải vô tư trên đường, các chú chỉ đủng đỉnh nép vào lề khi có tiếng còi xe, và chúng tôi đi bộ cũng phải rất “chánh niệm” nhìn ở dưới chân nếu không thì…

Ấn Độ là một đất nước mà giữa giàu và nghèo, văn minh và lạc hậu, hiện đại và thô sơ, sạch sẽ và dơ bẩn, … đối lập, chênh lệch rõ rệt được thấy từ mọi ngóc ngách ở đường phố, nhà cửa, cách sống và con người. HT. Giác Toàn đã có một bài pháp sâu sắc kể cho chúng tôi nghe về lần đầu tiên Hòa thượng đến Ấn Độ cùng với các Đại lão HT. Thích Minh Châu, cố HT. Thích Thiện Siêu vào năm 1993. Thời đó, các thánh tích Phật giáo hoang tàn, đổ nát, dơ bẩn, nhếch nhác, nhìn rất đau lòng. Đời sống dân Ấn đến nay nhiều vùng vẫn còn lam lũ, cùng cực, đường phố, nhà ga, bến xe, nhà ở mất vệ sinh không thể tưởng tượng nổi. Nhìn những hình ảnh ấy, Hòa thượng càng thấm thía ý nghĩa thâm sâu lời đức Phật dạy trong Kinh Bát-nhã: “thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm”. Hòa thượng nhắn nhủ Phật tử chúng tôi đến với quê hương của đức Phật, trú xứ của Ngài Đạt-lai Lạt-ma và Pháp hội với tinh thần Bát-nhã và Lục hòa.

Tôi cũng được biết Hòa thượng đã giảng bộ kinh này ròng rã trong 12 năm và nếu ai đã đọc nhiều sách của Ngài Đạt-lai Lạt-ma sẽ nhận ra Kinh Bát Nhã với giáo lý về tánh Không, Vô tướng đã được chính Ngài triển khai rốt ráo, xiển dương sâu rộng trong sự nghiệp hoằng pháp của Ngài.

                                                                        (Còn tiếp)

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết: