CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Công ơn cha mẹ

 Cứ mỗi năm, đến mùa thu tháng Bảy, lá vàng bay ngập lối, trong lòng tôi chợt dâng lên một niềm cảm xúc khi nghĩ về hai đấng sinh thành, người đã tạo hình hài và nuôi dưỡng cho tôi khôn lớn nên người.

Cha và mẹ là hai đấng thiêng liêng cao cả, mà trên cuộc đời này, dù ta có đi đến nơi đâu, có tiếp cận bao nhiêu người, cũng không nơi nào bằng tấm lòng cha mẹ đối với mình. Tại sao thế? Vì nếu một khi con có lầm lỡ, làm cho cha mẹ khổ đau thế nào thì tình thương của người vẫn không thay đổi. Có người hỏi trên thế gian nầy có tình nào hơn tình cha mẹ không? Các bạn sẽ trả lời sao? Có lẽ mọi thứ tình đều không qua được, bởi vì:

Tình cha cao lớn hơn non

Lòng mẹ chan trải rộng hơn biển hồ

Dù cho con có hồ đồ

Cha tha, mẹ thứ trầm trồ con ngoan.

Thật vậy, từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc, mọi người đều ca ngợi tình cha mẹ. Ở phương Tây, để thể hiện lòng hiếu thảo đối với cha mẹ, người ta chọn ngày chủ nhật tuần thứ 2 trong tháng 5 dương lịch để tôn vinh cho mẹ, và chọn tuần thứ 3 trong tháng 6 để nhớ đến ơn cha. Trong hai ngày này, những người con hiếu thường dâng lên cho cha mẹ những đóa hồng tươi thắm để biểu lộ lòng hiếu thảo của mình và những món quà có ý nghĩa đến hai đấng sinh thành.

Phương Đông ảnh hưởng Phật giáo nên lấy ngày Rằm tháng 7 âm lịch, ngày chư Tăng Ni sau 3 tháng an cư tu học, làm lễ Tự Tứ, hồi hướng phước báu đến muôn loài, làm ngày báo hiếu cho cha mẹ, ông bà, Cửu Huyền Thất Tổ. Lễ nầy được gọi là lễ Vu Lan, trong ngày này mỗi người sẽ được cài lên áo một đóa hoa hồng đỏ (dành cho những ai còn cha mẹ) hay trắng (dành cho những ai đã mất mẹ).

Biết ơn, nhớ ơn và báo ơn, đó là một truyền thống lâu đời của người Việt Nam, với tấm lòng ngưỡng vọng tổ tiên là đức tính cao quý của một dân tộc. Phật giáo với giáo lý đầy tình người, xem trọng chữ hiếu được mọi người dân hưởng ứng và tán thán trải qua nhiều thế hệ và gắn bó với lịch sử dân tộc.

Một người con hiếu không phải lo đền đáp ơn sâu bằng những của ngon vật lạ, bằng những sự trìu mến về vật chất, mà phải lo cho cha mẹ về tinh thần. Trong Tăng Chi Bộ Kinh, tập 1, trang 75, Đức Phật dạy: “Những ai đền ơn bằng cách nuôi dưỡng, cúng dường cha mẹ với các của cải, vật chất, tiền bạc thời không bao giờ đủ để trả ơn cha mẹ. Nhưng nầy các Tỳ kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn, an trú vào thiện giới; đối với cha mẹ xan tham, khuyến khích, hướng dẫn an trú vào bố thí; đối với cha mẹ theo ác trí tuệ, khuyến khích, hướng dẫn an trú vào trí tuệ. Cho đến như vậy, này các Tỳ kheo, là làm đủ và trả ơn đủ mẹ và cha.”

 


Đức Thế Tôn ca ngợi Ngài Mục Kiền Liên là đại hiếu vì Ngài thể hiện chữ hiếu bằng cách hướng tâm mẹ đến ngôi Tam Bảo, để thoát cảnh địa ngục, giúp mẹ được giải thoát an vui. Chính đó là những cử chỉ cao đẹp gương mẫu cho mọi người noi theo.

Tánh của người Cha thường nghiêm nghị, nên không gần gũi như mẹ, nhưng sẵn sàng hy sinh cho con, bảo bọc gia đình, tình cha âm thầm nhưng sâu lắng. Trên thế gian nầy, nếu ai đã từng trải qua bổn phận của cha và mẹ thì mới hiểu được tâm tư và sự lo lắng cho con cái như Người. Nhưng trong cuộc đời, lại có một số ít hoàn cảnh trái ngược, bởi vì để biện minh cho việc làm bất hiếu mà một số người không nghĩ đến cha mẹ và bảo rằng: “mưa trên trời mưa xuống chứ đâu thấy mưa dưới đất mưa lên”. Điều này chúng ta không thể nào chấp nhận được.

Cũng như thế, khi nói về Mẹ thì không có một bút mực hay ngôn từ nào có thể tả hết được, bởi “ba năm nhũ bộ, chín tháng cưu mang”. Mẹ rất gần gũi với con cái, thương yêu, vỗ về, chìu chuộng, do thế đôi lúc đứa con sinh ra nũng nịu với mẹ và dễ thổ lộ tấm lòng với mẹ hơn.

Hiếu đối với người thế gian là thế, còn chúng ta là những người xuất gia thì sao? Trong Quy Sơn Cảnh Sách, Tổ có nói: “Phụ mẫu bất cung cam chỉ, lục thân cố dĩ khí ly, bất năng an quốc trị bang, gia nghiệp đốn quyên kế tự, miến ly hương đẳng, thế phát bẩm sư……” Chúng ta không cung phụng cho cha mẹ những món ngon vật lạ, không hầu hạ cha mẹ những lúc sớm khuya bệnh hoạn, chúng ta lại cũng không có con để nối dõi tông đường, từ bỏ gia đình sống không gia đình. Vậy thì chúng ta là những người con bất hiếu hay sao? Nhưng tại sao trong kinh Phật dạy: “Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật.” Điều này có mâu thuẫn hay không?

Xin nói rằng không, vì khi xưa Đức Thế Tôn hiện thân gương chí hiếu vẹn toàn. Sau khi thành đạo, Ngài đã nghĩ đến hai đấng sinh thành, do đó Ngài lên cung trời Đao Lợi thuyết pháp cho Thánh mẫu Ma Da, và trở về thành Ca Tỳ La Vệ nói pháp độ vua cha và thân bằng quyến thuộc. Khi hay tin vua Tịnh Phạn lâm bệnh nặng, Ngài cũng về giảng pháp cho vua nghe và vua đắc quả Tu Đà Hườn. Đến khi vua băng hà, Đức Thế Tôn cũng thể hiện lòng hiếu thảo bằng cách đưa vai đỡ kim quan của phụ hoàng đến nơi trà tỳ để làm gương cho những người bất hiếu về sau.

Trong Kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu Trọng Ân có nói Ngài đã từng lạy đống xương khô và Ngài dạy đó là xương của ông bà cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp luân hồi sanh tử. Vì vậy Đức Phật đã dạy trong Kinh Tăng Chi, tập 1: “Này các Tỳ kheo, có hai hạng người không thể nào trả ơn được, đó là cha và mẹ. Nếu một bên vai cõng mẹ, một bên vai cõng cha làm vậy suốt trăm năm, đấm bóp, thoa xức, tắm rửa,… cho dầu cha mẹ có đại tiện, tiểu tiện trên thân, nầy các Tỳ kheo, cũng chưa làm đủ để trả ơn cha và mẹ...”

Chúng ta những người con Phật, phải là những người gương mẫu thực hành hạnh HIẾU, vì hiếu là nền tảng của con người, là tinh hoa của thế hệ, là mầm sống của muôn loài. Người sống hiếu đạo sẽ tạo ra một gia đình êm ấm, một xóm làng vui vẻ, một xã hội tươi đẹp, một đất nước hùng cường.

Thế thì chúng ta hãy là những người xây dựng cho quê hương bằng tấm gương hiếu thảo nhé.

 TX. Ngọc Điền, Long Điền, Bà Rịa - Vũng Tàu

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết: