CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Hai bà mẹ

Năm 2004, sau cơn đột quỵ Ngoại tôi không còn đứng dậy đi tới đi lui trong nhà được nữa. Năm đó Ngoại 81 tuổi, nét đẹp thời vàng son của Ngoại vẫn quý phái, mặn mà. Dầu không đi đứng, tự ngồi dậy làm những việc cá nhân, nhưng tinh thần bà vẫn rất tỉnh táo, nói chuyện trong giọng thì thào nhưng chuyện nào rõ ràng chuyện đó, không lầm lẫn mỗi khi gặp bất cứ ai.

Tuổi con gái, bà Ngoại tôi đẹp lắm. Dì Út tôi nói, hồi đó, Ngoại không những đẹp người, đẹp nết mà còn làm việc giỏi giắn, khéo léo. Bà con lối xóm thường khen Ngoại, lấy Ngoại làm tấm gương nhắc con cháu. Cuộc đời Ngoại, một cuộc đời chịu thương chịu khó, làm lụng, lo lắng hôm sớm cho chồng con, bà con cô bác, lối xóm láng giềng.

Tánh Ngoại thích yên tĩnh, ít khi nào Ngoại đến nơi đông người, ồn ào. Khi chưa bệnh, thỉnh thoảng Ngoại mới đó đây chút đỉnh để thăm bà con vào dịp cúng giỗ. Sáu năm nay nằm yên một chỗ, muốn ngồi dậy hay đi vệ sinh đều nhờ con cái giúp, song có người đến thăm thì chỉ 5, 10 phút, bà đã gợi ý mời khách ra bên ngoài để Má tiếp chuyện, còn bà nằm yên một mình lần tràng hạt. Nghe băng kinh, nghe niệm Phật, Ngoại cũng bảo chọn băng nào vị thầy tụng chậm rãi, khoan thai nhẹ nhàng, bà mới chịu.

Ngày ngủ nhiều nên tối Ngoại ít ngủ, cứ gọi Má dậy nhiều lần, Má không ngủ được. Hai ba ngày, dì Út xuống phụ Má tắm rửa thay đồ, lo cho Ngoại đi vệ sinh. Má và dì Út chăm sóc Ngoại rất kỹ nên tuy nằm lâu mà Ngoại không hề bị lỡ lói hay có mùi hôi. Ai cũng bảo Ngoại nằm như bà tiên. Hàng xóm láng giềng nói Ngoại tôi thật có phước, bệnh nằm một chỗ mà con cái có hiếu chăm sóc chu đáo.

Nằm sáu năm trường, bà ê ẩm đau đớn khôn cùng. Niệm Phật mỏi rồi, bà khắc khoải: “Phật trời ơi, cho con đi sớm để khỏi làm khổ con khổ cháu. Một đời con ăn hiền ở lành mà sao con phải chịu khổ quá lâu như thế này để rồi khổ lây đến cháu con...”. Giọng bà như rã ra từng mảnh, nghe quá não lòng. Mỗi lần nghe bà thì thào, tôi cảm nhận thâm thuý cái khổ khốc liệt của già, bệnh.

Sư phụ, Má và chúng tôi rỉ rả nhắc bà: “Ngoại hãy chuyên tâm niệm Phật, nghiệp bịnh này đã tạo phải trả, chưa hết nghiệp, Phật chưa gọi thì Ngoại hãy nhứt tâm niệm Phật thôi.”

Đôi mắt trong veo, nhỏ xíu của Ngoại tha thiết: “Có, Ngoại vẫn niệm đây, nhưng tội cho con cháu quá, Ngoại không muốn…”

Cả tuần nay hơi thở Ngoại nặng nề, Ngoại không ăn gì cả chỉ thỉnh thoảng Má đút vài muổng nước cháo. Ngoại yếu dần, mắt mờ đục, từng mảng da mồi bầm tím. Bác sĩ bảo các tế bào máu đã vỡ cả rồi, không thể chuyền dịch hay tiêm thuốc, thật sự không còn cách gì giúp bà được nữa. Chứng kiến cái cảnh của người gần đất xa trời sau hành trình kiếp người mỏi mệt, thật bùi ngùi, nghẹn ngào.

Má tôi lúc nào cũng bên cạnh Ngoại. Xoa tay, bóp chân, nắn lưng cho Ngoại bớt mỏi, và để Ngoại thấy có người bên cạnh. Má vừa làm vừa lâm râm niệm Phật. Đôi mắt Má quầng thâm, mỏi mệt vì đã bao năm thức trắng, song tiếng niệm A Di Đà Phật của Má vẫn đều đều ấm áp rõ ràng từng nhịp cho Ngoại nghe. Ôi! Câu niệm như lời ru đưa Ngoại vào giấc ngủ vĩnh viễn. Từng giây, từng giây…, Ngoại trả lại cho đời hơi thở mong manh còn sót lại. Từng giây, từng giây…, Ngoại chìm vào giấc ngủ không bao giờ trở dậy nữa. Sợ đông người đến, Ngoại không vui, một bóng bên giường, Má tôi trì danh hiệu đức Phật A Di Đà hộ niệm cho Ngoại. Ngày xưa Ngoại ru Má để rồi Má lớn lên đi vào đời, và rồi đêm nay Má ru cho Ngoại tinh thần an tịnh đi vào thế giới bên kia.

Sáu năm Ngoại nằm đó, biết sẽ đến ngày này nhưng niềm xúc cảm không như thuỷ triều dâng như bây giờ vì thời gian đó Ngoại vẫn ăn được ngủ được. Giờ thì chứng kiến giây phút ra đi tiệm tiến, tuy không nói thành lời, tim Má tôi đau nhói theo tiếng thở nặng nề của Ngoại, chúng tôi ở quá xa không về được nhưng sợi dây giao cảm ruột thịt vẫn rung lên từng nhịp. Chúng tôi thay phiên nhau gọi điện thoại thăm, khắc khoải, thở dài... Từ ngày mai ngày mốt, không có Ngoại nằm đấy nữa… Lần này về lại Việt Nam, làm sao còn thấy hình ảnh Ngoại, nghe Ngoại thều thào, an ủi Ngoại... Ôi cuộc người vô thường!

Nghe lòng trĩu nặng, quay quắc khôn nguôi, không chỉ thương cho Ngoại ra đi mà thương cho chúng sanh và thế giới này đang đi dần vào ngày ấy. Cái khổ của Ngoại, cái vô thường sanh diệt trong Ngoại là của vô lượng chúng sinh từ vô thỉ đến vô chung. Thành trụ hoại diệt, sanh lão bệnh tử, cái quy luật cay nghiệt mà chuẩn mực ấy vực dậy vũ trụ, vực dậy nhân sinh. Đông đi để xuân lại về, trăng khuyết để trăng lại tròn, hoa tàn để hoa lại nở, già nua để rồi một ngày cởi bỏ khoác chiếc áo mới. Không ai lại cứ muốn cọc cạch kéo mãi chiếc xe cũ kỹ, nặng nề, mỏi mệt này. Song trong thế giới này, mấy ai rõ hiểu chân lý vô thường tưởng chừng như vô tình ấy. Cái cảnh vô thường đến với người thân làm tôi thấm thía lời kinh đức Thế Tôn nhắc nhở chúng sinh và trong đêm nay dường như Ngài đang thì thầm nhắc tôi.

Sau khi hai vị đại tôn giả trưởng tử Xá-lợi-phất (Sàriputta) và Mục-kiền-liên (Moggalàna) viên tịch không bao lâu, đức Thế Tôn và chư Tăng về giáo hoá dân chúng Bạt-kỳ (Vajji), làng Ukkacelà, ven bờ sông Hằng. Sáng hôm ấy, sau buổi toạ thiền đức Phật im lặng rảo nhìn hết thảy đại chúng chư Tăng và cư sĩ nam nữ đang ngồi xung quanh Ngài trong ánh bình minh đang toả dần không gian. Chợt Ngài lên tiếng: “Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên đã ra đi, Như Lai thấy hội chúng hôm nay dường như trống không! Nơi nào Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đến, nơi đó quả thật nhiều an lạc, hạnh phúc, không còn mong ước điều gì hơn (anapekkhà).” Khi nghe đức Từ Phụ nói như vậy, nhiều vị trong đại chúng nghĩ rằng có lẽ tâm đức Thế Tôn cũng xao xuyến trước sự ra đi của hai vị đệ tử thâm tín, trí tuệ nhất của mình.

Biết được suy đoán của đại chúng, đức Phật kể lại câu chuyện rằng: “Đại chúng hãy lắng nghe! Chư Phật trong thời quá khứ cũng có các cặp đệ tử tối thắng như Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên. Những vị đệ tử này rất tinh tấn thực hành lời dạy của đức Bổn Sư, làm tròn trách nhiệm giáo giới của mình đối với đại chúng. Bốn chúng đều ái kính, luôn khen ngợi họ. Khi các tôn giả này viên tịch, chư Phật không hề sầu muộn hay buồn bã bởi vì không có pháp hữu vi nào hay bất cứ cái gì được sanh ra, được hình thành lại không bị hoại diệt và mất đi. Chân lý ấy của muôn đời, bất di bất dịch. Cũng ví như cây cổ thụ có lõi cây cứng chắc và có nhiều cành lớn giang rộng. Sẽ đến một ngày một số trong nhưng cành lớn ấy bị gãy đổ hoặc vì mưa bão, gió mạnh, hoặc vì đã quá cỗi. Làm sao con người ta mong ước: “Xin cho những cành cây lớn kia đừng bao giờ gãy đổ.” Lời cầu nguyện thật hão huyền quá phải không? Cũng thế, sự kiện vô thường mất mát hôm nay của hai trưởng tử của ta không làm ta đau buồn. Cái gì đến phải đến. Đã đến lúc hai trưởng tử rời đại chúng.”

Và đức Thế Tôn nhấn mạnh: “Này các Tỳ-kheo, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Hãy nương tựa ngọn đèn chánh pháp, hãy nương tựa chánh pháp chớ nương tựa một điều gì khác. Hãy tinh tấn tu tập trú, quán thân trên thân, trên cảm thọ, trên tâm và trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy là Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, nương tựa ngọn đèn Chánh pháp, không nương tựa một điều gì khác. Dẫu rằng mai này Như Lai diệt độ đi chăng nữa, các Tỳ-kheo vẫn tinh tấn, nhất tâm chánh niệm tu tập như vậy.” [1]

Hôm nay là ngày đầu tiên sau sáu năm Má tôi không tắm rửa thay đồ cho Ngoại lúc 5 h sáng, không đút cho Ngoại ăn, không còn nghe tiếng Ngoại gọi, chiếc giường Ngoại nằm trống rỗng hư vô, căn phòng Má rộng ra, lặng tờ.

Ngày hôm nay, Má của Má đã bỏ Má và chúng tôi đi về với tổ tiên…

Trong làn hương trầm đang nhẹ nhàng thanh thản hoà vào hư vô, con thành kính cảm ơn Ngoại đã dạy cho con thật nhiều bài học. Con đã học được từ Ngoại nhân cách khoan từ, thương người mến vật, chịu thương chịu khó, sự nhẫn nại trước bệnh tật. Ngày Ngoại lâm bệnh, chuỗi thời gian đưa Ngoại về bên kia thế giới cho con thấy vạn pháp vô thường rõ hơn. Và trên tất cả, Ngoại bây giờ trong hình ảnh của Má. Ở tuổi xấp xỉ lục tuần Má vẫn còn khoẻ và trẻ nhiều so với bây giờ chỉ sau 6 năm. Mỗi ngày lo lắng chăm sóc cho Ngoại từng miếng ăn, giấc ngủ, thay đồ, ẳm bồng vệ sinh, an ủi tinh thần Ngoại,… chỉ ngần ấy năm mà Má sút hẳn đi, dáng dấp như rút lại, gương mặt rất có duyên của Má ngày nào hằn nhiều nếp nhăn, tóc chỉ còn một nhúm như tơ trắng. Song Má vẫn nhỏ nhẹ, hoan hỷ, săn sóc bữa ăn cho Ngoại, lo cho các con mỗi khi ở xa về. Dẫu mệt thế nào Má cũng không bao giờ quên công phu sớm tối. Ở Má con học bài học hiếu thảo, thương yêu, tinh tấn, hoan hỷ, sống vì người. Má! Chúng con mang ơn Má thật quá nhiều. Má đã chứng minh tất cả tình mẫu tử, tình mẹ mà đức Phật vẫn nhắc hoài: “Này chư Tỳ kheo, chúng sinh vì tham ái trói buộc, vì vô minh dày đặc che mắt, đi mãi trong vòng luân hồi. Vòng luân hồi vô thỉ, vô chung, không biết đâu là khởi điểm, không biết đâu là điểm dừng. Và các ông có biết sữa mẹ mà mà các ông đã uống khi trôi lăn trong vòng luân hồi này còn nhiều hơn nước bốn biển.”[2]

Với con, Má! Má là người mẹ, người thầy, người chị, người đàn bà tuyệt vời vĩ đại nhất trong thế giới này.

Chú thích:

[1] Trích trong Kinh Tương Ưng, tập V, mục 163, 14. IV. Celam. Tạp 24, 40, Đại 2,177a.

[2] Trích trong Kinh Tương Ưng, tập II, mục 180, IV. Sữa. Tạp, Ðại 2, 241a, Biệt Tạp 16.3, Ðại 2, 486b.

Đêm Ngoại hấp hối 07-01-2011dl (04-12 Canh Dần)

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết: