CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

Đầu năm lên chùa lễ Phật

Theo truyền thống lâu đời của dân tộc, mỗi dịp xuân về, dù là nơi đô thành thị tứ hay là nơi làng quê thôn dã, vào ngày mồng một tết Nguyên đán hàng năm, những người con Việt thường đến chùa dâng hương lễ Phật, chí tâm cầu nguyện chư Phật mười phương thùy từ gia hộ, nhà cửa bình yên, gia đạo hạnh phúc, từ đầu năm cho tới cuối năm. Đồng thời chúng ta cũng gửi đến nhau những lời cầu chúc một năm tốt đẹp, an khang hạnh phúc, vạn sự như ý, v.v… Trong nhà Phật, ngày mùng một tết Nguyên đán đầu năm cũng là ngày vía đức Phật Di Lặc, vị Phật trông rất khỏe mạnh, mập mạp, và gương mặt luôn luôn tươi cười hoan hỷ mà ta luôn bắt gặp hình tượng của Ngài ở bất kỳ ngôi tự viện nào. Chỉ cần buổi sáng đầu năm mới đến chùa lễ bái Ngài là ta đã thấy một mùa xuân hoan hỷ, xuân hy vọng, xuân hạnh phúc, và có lẽ cũng chính vì điều đó, không biết từ bao giờ hình ảnh đức Phật Di Lặc là biểu tượng mùa xuân trong tự viện, qua cụm từ Xuân Di Lặc. Chư Tổ thật là thâm thúy khi chọn đức Phật Di Lặc làm biểu tượng an lành và lấy đó làm ngày vía, tưởng niệm Ngài.

Di Lặc, tiếng Sanskrit là Maitreya (Pāli là Metteyya), Hán dịch là Từ Thị, nghĩa là người mang chủng tính Từ Bi (dịch thoát là Đấng Từ Ái). Di Lặc là họ, còn tên là A Dật Đa (Ajita), dịch là Vô Năng Thắng (không gì hơn). Ngài thuộc dòng dõi Bà La Môn ở Nam Thiên Trúc (Ấn Độ). Theo kinh Di Lặc, Đức Phật Thích Ca thọ ký Ngài là vị Phật kế tiếp ở cõi Ta-bà này và pháp hội của Ngài là Hội Long Hoa. Cho nên khi lễ Ngài chúng ta thường xưng "Nam Mô Long Hoa Giáo Chủ Di Lặc Tôn Phật" hay "Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật".

Dilac2

Ngày đầu một năm mới thật quan trọng theo truyền thống Đông phương. Tất cả mọi việc làm, cử chỉ phải thật nhẹ nhàng, thận trọng. Từng lời ăn, tiếng nói phải vui vẻ, hòa nhã. Tập quán đó để nói lên lòng ao ước một năm an vui, cát tường. Trong bối cảnh của ngày xuân như thế, đức Phật Di Lặc đến với chúng ta với nụ cười vui tươi, vô cùng hoan hỷ thì thật đầy ý nghĩa.

Trước hết, chúng ta được biết, hình ảnh của đức Di Lặc được thờ trong các chùa, hoặc trong tranh ảnh khỏe mạnh, mập mạp, với gương mặt tươi cười hoan hỷ cùng sáu đứa bé bám trên thân của Ngài. Đứa thì chọc mắt, đứa thì móc mũi, đứa thì rờ miệng, đứa thì chọc lỗ tai, đứa thì moi rún, mà Ngài vẫn tươi cười, thản nhiên, tự tại như không có chuyện gì làm cho Ngài phiền hà hay bực dọc. Hình ảnh của Ngài cùng sáu đứa bé chính là bài học tích cực, giúp chúng ta xây dựng được một cuộc sống an lạc và hạnh phúc cho chính chúng ta và cho những người chung quanh, ngay trong hiện đời, ngay trong cuộc sống đầy phiền não và khổ đau này.

Sáu đứa bé bám vào thân của Ngài tượng trưng cho "lục tặc", tức là sáu tên giặc chuyên gây phiền não, rắc rối, bực dọc cho chúng ta trong cuộc sống thường ngày. Sáu tên giặc đó là những ai? Làm sao chúng có thể gây rắc rối cho cuộc đời của chúng ta được? Chúng ta cần nhận diện rõ sáu tên giặc đó, mới có thể điều phục được chúng, để xây dựng cuộc sống an lạc và hạnh phúc, một cách tích cực hơn.

Lục căn là sáu giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Với hai con mắt, trong đời sống thường nhật, chúng ta nhìn thấy những hình ảnh nào dễ thương, hạp nhãn, thì sanh tâm đắm nhiễm, nhớ nhung, tham luyến, và liền nảy sinh ý muốn chiếm hữu cho riêng mình; còn những lúc trông thấy những hình ảnh thô, xấu, thì sanh tâm bực dọc, khó chịu và thậm chí tức giận. Với hai cái tai, những tiếng êm dịu, tâng bốc lọt vào tai thì ta sanh tâm đắm nhiễm, ưa thích; còn nếu nghe những lời thẳng thắn, xây dựng, hoặc những lời chỉ trích, chạm đến tự ái, chạm đến tự ngã “vĩ đại”, thì không kham nhẫn, nên sanh tâm sân hận, oán ghét. Còn cái mũi, chúng ta chỉ thích ngửi những mùi hương thơm ngát, dễ chịu và ghét những mùi khó chịu, hôi thối, những mùi lạ không vừa ý, nên sanh tâm cấu gắt, bực dọc. Với cái lưỡi, chúng ta chỉ thích nếm các món ngon khoái khẩu, hạp vị, mà không nghĩ đến sự đau khổ của các chúng sanh bị giết thịt; còn nếu không được ngon miệng, thì sanh tâm bực bội, gắt gỏng. Cuối cùng là cái thân tứ đại giả tạm này vì mê lầm, chúng ta thường chấp là chính mình, chúng ta chỉ thích mặc đẹp và những xúc chạm vừa ý; còn nếu không được như ý, thì sanh tâm cau có, quạu quọ, tức tối, bất an. Quan trọng hơn cả với cái tâm ý lăng xăng lộn xộn, không một giây phút ngừng nghỉ, chúng ta luôn luôn suy tư, nghĩ tưởng lung tung, toan tính những điều gì có lợi cho bản thân mình, cho gia đình mình, cho tập thể, tổ chức của mình, luôn luôn đặt mình làm tâm điểm giữa mọi người.

Trong cuộc sống hằng ngày, khi "sáu căn" tiếp xúc với "sáu trần", để rồi tâm niệm khởi lên thế này thế nọ, trong kinh sách gọi là "sáu thức", tức là sự nhận biết của các tâm vương dẫn dắt theo các chặp tâm phụ thuộc phiền não bất an. Trong trường hợp như vậy, lục trần chính là lục tặc, là sáu tên giặc, đã, đang và sẽ dẫn dắt chúng ta vào sanh tử luân hồi. Người ta thường nói: "tam bành" (tham, sân, si) do "lục tặc" (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) gây ra, chính là nghĩa đó vậy.

Tuy nhiên, trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật có dạy: "Sáu căn chính là cội gốc của sanh tử luân hồi và sáu căn cũng chính là cội gốc của giải thoát Niết- bàn".

Vì sao? Bởi vì, nếu lục căn tiếp xúc với lục trần mà không đắm nhiễm, không dính mắc, thì chúng ta đâu có sinh khởi phiền não và làm gì có nổi "tam bành", khi ấy chúng ta vẫn sống, vẫn làm việc và tâm ghi nhận tất cả cảnh mà không bị tham, sân, si chi phối, mặc dù là vẫn tiếp xúc với mọi người, mọi cảnh trong đời sống. Sống được như vậy tức là chúng ta được giải thoát khỏi phiền não, khổ đau, sống trong cảnh giới Niết-bàn, an lạc vậy.

Cho nên, một khi mắt trông thấy hình sắc mà vẫn biết rõ ràng ai là ai, món này là món gì, nhưng không khởi niệm thương hay ghét, ưa hay không ưa, nghĩa là sống với thực tại hiện tiền, tâm không bị cái tưởng tri, kinh nghiệm xưa cũ lấn áp và che lấp. Tương tự, tai nghe thấy tiếng thì biết rõ ràng là khen hay chê, nhưng không khởi niệm khoái chí hay bực bội. Mũi ngửi thấy mùi thì biết rõ ràng là mùi gì, nhưng không khởi niệm thích hay không thích. Lưỡi nếm vị thì biết rõ ràng là vị gì, nhưng không khởi niệm khen ngon hay chê dở. Thân xúc chạm thì biết rõ ràng là tốt hay xấu, nhưng không khởi niệm dễ chịu hay khó chịu. Tâm ý nghĩ suy thì biết rõ ràng là đúng hay sai, phải hay quấy, nhưng không khởi niệm kỳ thị, đố kỵ, so sánh, hơn thua, tranh chấp… Được như vậy, chúng ta đâu có bị kéo lôi, không bị cột trói vào chuyện thương ghét, tranh đấu, chuyện nói tới nói lui, nói xuôi nói ngược,… nghĩa là chúng ta đã thoát khỏi khổ đau trong phút giây hiện tại rồi. Cho nên, trong cửa thiền có bài kệ rằng:

Mắt trông thấy sắc rồi thôi (không dính)

Tai nghe thấy tiếng, nghe rồi thì không (không mắc)

Trơ trơ lẳng lặng cõi lòng (vô niệm)

Nhẹ nhàng ta bước khỏi vòng trầm luân. (giải thoát)

 

Trái lại, cũng có bài kệ:

 

Mắt thấy sắc, thấy rồi thì dính, (dính)

Tai nghe tiếng, nghe rồi thì mắc. (mắc)

Tam bành, lục tặc trong lòng, (loạn tâm)

Nặng nề ta lọt vào vòng tử sanh. (phiền não)

Thường ngày, nếu chúng ta sống trong cõi đời này, sáu giác quan của chúng ta tiếp xúc với sáu đối tượng ở trần đời, mà không sanh tâm dính mắc, loạn động thì chắc chắn chúng ta sẽ được tự tại, giải thoát ngay hiện đời. Mắt trông thấy sắc, tai nghe thấy tiếng, mũi ngửi biết mùi, lưỡi nếm biết vị, nhưng đừng khởi niệm thương hay ghét, thích hay không thích, nếu như có khởi niệm rồi, thì ngay đó giác tỉnh, đừng theo. Như vậy, chúng ta đâu có gì gọi là phiền não, sân hận hay bực dọc nữa. Nhưng xưa nay, mỗi khi tâm khởi niệm, chúng ta liền bám đuổi đến cùng, bám đuổi từ đông sang tây, từ chuyện quốc gia đại sự đến chuyện hang cùng ngõ hẹp, từ chuyện người đến chuyện mình, từ chuyện người lớn đến chuyện trẻ con, đủ mọi thứ chuyện trên đời, để rồi hệ quả là nhức đầu, mệt mỏi, chán nản, than trời trách đất!

Còn như đức Di Lặc, sáu đứa bé luôn luôn chọc phá, mà Ngài vẫn tươi cười hoan hỷ như không có chuyện gì xảy ra. "Lục căn" của Ngài vẫn thường tiếp xúc với "lục trần", mà tâm của Ngài vẫn an nhiên, thư thái, tự tại. Đó là cảnh giới của bậc "vô niệm", tức là những người không có tâm niệm lăng xăng lộn xộn, nên không có phiền não và khổ đau. Đó chính là cảnh giới Niết-bàn ở ngay trong tâm trí của chúng ta hiện đời, chứ không phải đợi sau khi lâm thời chung mệnh mới tiêu diêu miền Cực lạc, hay lên thiên đàng.

Qua hình ảnh đức Di Lặc cùng sáu đứa trẻ, ta có thể thấy rằng giáo lý của đức Phật chủ yếu chỉ bày phương pháp rèn luyện, chuyển hóa tâm, từ phiền não thành an lạc, từ khổ đau đến hạnh phúc, từ tà vạy nên chân chính, từ vô minh thành giác ngộ. Đạo Phật được áp dụng ngay trong thực tế của cuộc đời, trong mọi hoàn cảnh, giúp những người thiện tâm được sống bình an ngay tại thế gian này. Thiền sư Bá Trượng dạy: "Tâm cảnh không dính nhau là giải thoát", nghĩa là chúng ta vẫn thấy, nghe, hiểu, biết tất cả các cảnh trên đời (kiến văn giác tri), nếu tâm của chúng ta không dính mắc thì không phiền não. Không phiền não tức là giải thoát. Lý lẽ tuy cao siêu vi diệu, nhưng hết sức thực tế. Bất cứ ai cũng có thể làm được.

Tuy nhiên, nhận thức là như vậy nhưng còn thực hiện được cái "không dính", "không mắc", "vô niệm", “vô chấp” thì chúng ta cần phải có phương pháp để ứng dụng hành trì. Làm sao chúng ta có thể tươi cười suốt tháng, quanh năm và cả đời như đức Di Lặc? Điều đầu tiên, chúng ta hãy can đảm nhận thấy rõ cuộc sống của chúng ta vui ít khổ nhiều, đừng tự dối mình gạt người, nhưng không bi quan yếm thế và cũng đừng sống trong phiền não, khổ đau bi thảm như trước đây nữa. Muốn được như vậy, chúng ta phải đảnh lễ Ngài với tất cả lòng thành kính và hướng tâm học theo hạnh nguyện của Ngài, để tâm trí được an vui, dù đang ở trong bất cứ cảnh ngộ nào cũng vậy. Đức Di Lặc tu theo pháp môn nào mà được tự tại như vậy? Đó chính nhờ Ngài tu tứ vô lượng tâm "Từ, Bi, Hỷ, Xả", tức là bốn tâm địa rộng lớn thênh thang, không thể nghĩ bàn.

Bằng tâm từ, Ngài luôn luôn mang niềm vui đến với mọi chúng sinh, bất cứ lúc nào, không phân biệt gì cả. Bằng tâm bi, Ngài luôn luôn cứu giúp những chúng sinh đau khổ, những kẻ bất hạnh, thương chúng sinh như thương chính mình. Với tâm hỷ, Ngài luôn luôn vui vẻ, hoan hỷ với những việc lành, những hạnh phúc, những thành tựu của tất cả chúng sinh, không có tâm ganh ghét, đố kỵ, tị hiềm. Nghĩa là Ngài luôn luôn noi gương những vị Bồ-tát mà tất cả mọi người đều hoan hỷ khi gặp mặt (Nam Mô Nhất Kiến Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ Tát). Với tâm xả, Ngài không bao giờ chất chứa trong lòng, trong kho tàng tâm thức điều phiền muộn nào, dù nhỏ đến đâu; mà ngược lại, Ngài luôn luôn tha thứ cho bất cứ ai gây phiền muộn, rắc rối cho Ngài. Đức Di-lặc không bị bất cứ phiền não nào tác động, cho nên thân tướng mập mạp khỏe mạnh, tâm trí thanh thản, thảnh thơi, nét mặt lúc nào cũng hoan hỷ, vui tươi. Thế nên chúng ta muốn được an nhiên tự tại, muốn được hạnh phúc ngay hiện đời, chúng ta phải noi gương Ngài để tu bốn hạnh "từ, bi, hỷ, xả".

Nếu có tâm từ và tâm bi, chúng ta sẽ biết thương yêu và thông cảm với tất cả mọi người, dù kẻ đó đang gây phiền não cho mình, đồng thời chúng ta sẽ giảm bớt tâm tham và tâm sân. Khi chúng ta phát tâm làm việc phước thiện, thì tâm từ bi của chúng ta tăng trưởng, tâm tham lam bỏn sẻn của bản thân cũng giảm bớt đi. Thêm phước báu, bớt phiền não, lần lần tâm tánh của chúng ta được thanh tịnh, cuộc sống của họ được an lạc hơn, hạnh phúc hơn. Nếu chúng ta phát tâm tùy hỷ, vui theo với việc thiện của người khác, thì chúng ta giảm được tâm đố kỵ, tị hiềm, tâm từ bi của chúng ta cũng tăng trưởng, và khi đủ duyên, chúng ta cũng sẽ làm việc thiện đó vậy. Với tâm xả, tuy đó là chỗ hết sức cao siêu của người tu hạnh giải thoát nhưng với ý muốn được giải thoát, tự tại, nhẹ nhàng bước ra khỏi vòng trầm luân, sanh tử luân hồi, nhất định chúng ta phải tu hạnh xả. Nếu lục căn của chúng ta tiếp xúc với lục trần, không dính không mắc, cái gì cũng xả, cái gì cũng bỏ qua hết, thì chúng ta không còn gì để đem chứa vào kho tàng tâm thức của chúng ta. Lúc bấy giờ, chúng ta sống trong tự tại nhẹ nhàng, thảnh thơi thơ thới, không lo âu phiền muộn, không ưu tư lo lắng, không thấp thỏm phập phồng. Chúng ta sở dĩ bị sanh tử luân hồi nhiều đời nhiều kiếp, bởi vì chúng ta dính mắc quá nhiều. Chúng ta chẳng những không biết buông xả, trái lại, còn chứa nhóm quá nhiều thứ trong tàng thức, trong kho tàng tâm thức của chúng ta. Biết vận dụng tâm từ bi, chúng ta sẽ làm được biết bao nhiêu việc phước thiện mà không mệt mỏi, vận dụng tâm hỷ xả, chúng ta sẽ vui vẻ bỏ qua hết, sẽ quên hết tất cả những việc bất như ý. Rồi mùa xuân tươi đẹp của mỗi chúng ta chắc chắc sẽ hiển bày.

Tết nay, chúng ta hãy cùng đến chùa lễ Phật Di Lặc để tìm trong ta một mùa xuân hoan hỷ, xuân hy vọng, xuân hạnh phúc. Đảnh lễ đức Phật Di Lặc một cách thành kính sau đó học phương pháp tu giác ngộ và giải thoát của Ngài, hay đơn giản chỉ cần học theo Ngài để có được mùa xuân an lạc và hạnh phúc hiện đời cho chính bản thân. Được như vậy, chúng ta sống trên cõi đời này sẽ thấy nơi đây chính là cõi an lành tự tại, là một thế giới đầy tình thương yêu, đầm ấm. Nếu chúng ta khéo léo một chút thì thế gian này chính là cảnh giới của chư Phật, của chư Hiền Thánh, chư thượng thiện nhơn, chứ không còn là cảnh giới của phàm phu, tục tử nữa. Kính chúc quí vị được hưởng một mùa xuân Di Lặc, mùa xuân hy vọng, mùa xuân an lạc và hạnh phúc, mùa xuân miên viễn của tất cả chúng ta.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết: